Góc nhìn trên cao của Giáo xứ Đạo Đồng

Giáo xứ Đạo Đồng hân hoan chào mừng mọi người ghé thăm.

Thánh đường Giáo xứ Đạo Đồng

Đạo Đồng welcome to

Lớp mầm ơn gọi của Giáo xứ

Hãy để trẻ nhỏ đến với Thầy

Anh chị em Liên tu sĩ

Ở đâu có Tu sĩ, Ở đó có niềm vui

Anh chị em Liên tu sĩ

Niềm vui dâng hiến

Giới thiệu về tôi

Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

THƯ KÊU GỌI TINH THẦN LIÊN ĐỚI VÀ TƯƠNG THÂN ĐỂ PHÒNG CHỐNG ĐẠI DỊCH


 Anh chị em thân mến,

Đại dịch Covid-19 làm thế giới điên đảo và đang tái phát hung hãn tại Việt nam cũng như một số nước trong khu vực. Làm thế nào để đối phó hiệu quả đối với đợt tấn công mới này?

Liên hiệp quốc, Tổ chức Sức khoẻ Thế giới (WHO), lãnh đạo các quốc gia và tôn giáo đều cho rằng bí quyết hiệu quả nhất là tình liên đới. Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định : “Có thể khắc phục được đại dịch... Nhưng chúng ta chỉ có thể thành công nếu chúng ta đoàn kết với nhau” (Gặp gỡ trực tuyến với Hội đồng Giám mục Brasil ngày 12-16/04/2021). Thủ Tướng Anh, Boris Johnson, ngày 31/05/2021, cũng tuyên bố rằng để loại trừ Covid-19, cần phải huy động toàn lực để chích ngừa toàn cầu trong năm 2022.

Trong tinh thần đó, nhân danh quý Đức Hồng Y và quý Đức Cha trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, tôi kêu gọi giáo sỹ, tu sỹ, giáo dân, trong nước cũng như hải ngoại, hãy mau mắn vào cuộc, chung tay góp sức, san sẻ công việc với mọi thành phần xã hội và Giáo hội trong công cuộc phòng chống đại dịch.

Trước hết, hãy xem trận đại dịch này như một cơ hội để yêu thương. Theo lời Chúa dạy, Kitô hữu phải nhìn nhận tất cả nạn nhân Covid-19 là “người lân cận” (Lc 10,28-29), sẵn lòng “vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15) dù họ là ai. Tứ hải giai huynh đệ. Tất cả mọi người đều là đồng bào, là thành viên của đại gia đình dân tộc và nhân loại. Người Công giáo không được phép loại trừ, kỳ thị, “điểm mặt” hoặc kết án bất kỳ ai đã hoặc chưa bị lây nhiễm.

Hãy vận dụng hết trí sáng tạo để hỗ trợ các trung tâm nghiên cứu y học, cộng tác với các bộ phận chức năng, thông cảm và tiếp sức cho các y bác sỹ và bệnh viện, tạo điều kiện vật chất và tinh thần thuận lợi cho mọi người và khu vực cách ly, giúp đỡ gia đình bệnh nhân đang điều trị, tử vong và những người đang lâm cơn túng quẫn kinh tế. 

Một miếng khi đói bằng một gói khi no; Lá lành đùm lá rách; Nhiễu điều phủ lấy giá gương! Hơn bao giờ hết, bao nhiêu người khó khăn đang trông chờ anh chị em thực thi giáo huấn của Chúa: “Ai đón tiếp anh em mình là đón tiếp chính Ta… Ai cho một trong những kẻ bé mọn này uống, dù chỉ một bát nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Ta, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mt 10, 40-42).

Nghèo như Việt Nam mà không biết tập trung sức mạnh để ngăn chặn thì chắc chắn đại dịch sẽ trở thành thảm hoạ vô phương cứu chữa. Không đủ tài chánh để lo cho mỗi người một suất Vaccine chích ngừa, làm sao và đến bao giờ ta mới ngăn chặn được đà lây lan của Covid-19 ?

Thủ Tướng Chính Phủ, ngày 26/05/2021, đã quyết định thành lập Quỹ Vaccine và kêu gọi mọi thành phần xã hội tham gia đóng góp (http://https//thutuong.chinhphu.vn/chi-dao/thanh-lap-quy-vaccine-phong-covid19-20165.html). Đây là một chủ trương hợp tình hợp lý và đúng lúc, rất xứng đáng để mọi người hưởng ứng, vận động và ủng hộ với hết khả năng.

Tính đến hôm nay, 02/06/2021, có đến 22 tỉnh, 68 quận huyện đã bị lây nhiễm. Theo các chuyên gia, con số có thể gia tăng nhanh trong những ngày tới đây, nhất là khi các nước lân bang như Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Lào… đang lâm nguy mất kiểm soát. Nguy cơ vỡ trận có thể đe doạ Việt Nam, nếu chúng ta không huy động toàn lực và toàn dân để ngăn chặn.

Điều sơ đẳng nhất cần phải làm ngay là tuân thủ triệt để châm ngôn 5K (Khẩu trang, Khử khuẩn, Khoảng cách, Không tập trung, Khai báo) và quy định phòng chống của các cơ quan chức năng xã hội (Ban Chỉ đạo Quốc Gia phòng chống Covid-19, Bộ Y Tế, chính quyền các cấp).

Theo thông báo của Ban Tôn Giáo Chính phủ (công văn 657/TGCP-CG, ký ngày 31/05/2021, V/v tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống dịch Covid-19), tất cả các giáo phận Công giáo, dù có ca lây nhiễm cộng đồng hay chưa, đều phải “tạm dừng mọi hoạt động và sinh hoạt tôn giáo”. Tình hình mỗi nơi mỗi khác, cần có sự hướng dẫn cụ thể phù hợp. Xin anh chị em theo dõi để thực hiện chỉ thị của các đấng bản quyền giáo phận.

Anh chị em thân mến,

Để tôn vinh Thánh Cả Giuse trong năm 2021, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viết trong Tông huấn “Trái Tim Người Cha” : “Thánh Giuse được kêu cầu như đấng che chở cho người bất hạnh, túng thiếu, lưu đày, đau khổ và hấp hối”. Đó là bí quyết cuộc đời của vị Thánh vĩ đại này : “Tìm thấy hạnh phúc không chỉ ở sự hy sinh bản thân mà ở sự tự hiến”. Đó cũng chính là niềm hy vọng và phần thưởng dành cho chúng ta trong cuộc chiến loại trừ virut quái ác ra khỏi thế giới. Anh chị em hãy tin rằng Thánh Cả Giuse sẽ phù hộ cho chúng ta.

Thân ái trong Chúa Kitô,

Đã ký

Giuse Nguyễn chí Linh

Tổng Giám mục Huế

Chủ tịch Hội đồng Giám mục

Hội đồng Giám mục Việt Nam ủng hộ Quỹ vắc-xin phòng Covid-19

 

Trong Thư gửi Dân Chúa ngày 02-6-2021, Đức Tổng Giám mục  Giuse Nguyễn Chí Linh - Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam - đã kêu gọi mọi tín hữu “chung tay góp sức, san sẻ công việc với mọi thành phần xã hội và Giáo hội trong công cuộc phòng chống đại dịch”, đồng thời nhắc đến quyết định “thành lập Quỹ vắc-xin” của chính phủ. Đức cha Chủ tịch HĐGMVN đã nhận định về Quỹ vắc-xin: “Đây là một chủ trương hợp tình hợp lý và đúng lúc, rất xứng đáng để mọi người hưởng ứng, vận động và ủng hộ với hết khả năng.”

Với tinh thần đó, trong 'Lễ ra mắt Quỹ vắc-xin phòng Covid-19' được Chính phủ tổ chức tại Nhà hát lớn Hà Nội vào lúc 20g10 ngày 05-6-2021, Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên đã đại diện Hội đồng Giám mục Việt Nam ủng hộ 3 tỷ đồng vào Quỹ này. Được biết, khoản tiền này trích từ quỹ Caritas Việt Nam và quỹ dự phòng của Hội đồng Giám mục Việt Nam, được quý Đức cha Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục thuận duyệt.

Hành động này là một nghĩa cử cụ thể theo đề nghị của Đức cha Chủ tịch HĐGMVN: “vận dụng hết trí sáng tạo để hỗ trợ các trung tâm nghiên cứu y học, cộng tác với các bộ phận chức năng, thông cảm và tiếp sức cho các y bác sĩ và bệnh viện, tạo điều kiện vật chất và tinh thần thuận lợi cho mọi người và khu vực cách ly, giúp đỡ gia đình bệnh nhân đang điều trị, tử vong và những người đang lâm cơn túng quẫn kinh tế…” (Thư gửi Dân Chúa, ngày 02-6-2021)

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

Đôi nét về Liên Tu Sĩ – Linh Mục Giáo Xứ Đạo Đồng

 

 

Giáo xứ Đạo Đồng tọa lạc trên địa bàn xóm Trung Nam, xã Quang Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Lịch sử của giáo họ chúng con được bước sang một trang mới khi nhận được quyết định từ Đức Cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên cho thành lập Giáo xứ mới, được tách ra từ xứ Mẹ Hậu Thành với tên gọi đầy thân thương và trìu mến đó là Giáo Xứ Đạo Đồng vào ngày 01/08/2008. 

Nguồn gốc thành lập Liên Tu sĩ và Linh mục của Giáo xứ:

Sau khi thành lập, giáo xứ dần đi vào nề nếp, các ban ngành, hội đồng cũng đi vào quy cũ. Để đưa giáo xứ phát triển, đi lên về mặt vật chất cũng như việc đạo đức được sốt sắng thì được sự quan tâm, lo lắng của Cha quản xứ các hội đoàn, đoàn thể, các giới cũng dần dần mọc lên như: Hội Phan sinh tại thế, Giới phụ huynh, phụ nữ, Giới trẻ và Hội HSSV – Tu sĩ và Linh mục cũng chính thức được thành lập vào ngày 31/07/2009 và nhận thánh I-nha-xi-ô thành Loyola làm bổn mạng của nhóm. 

Sau thời gian dài sinh hoạt chung với nhau thì năm 2016 hội HSSV – Tu sĩ và Linh mục đã tách ra thành 2 nhóm là hội HS – SV và Liên Tu sĩ – Linh mục để thuận tiện trong việc sinh hoạt và thực hiện các hoạt động của hội.

Mục đích thành lập: 

- Sống tình huynh đệ, yêu thương - hy sinh - phục vụ 

- Chia sẻ kinh nghiệm cũng như công việc mục vụ, công việc bác ái… của cá nhân và cộng đoàn sở tại.

Hoạt động: 

- Ươm mầm ơn gọi giáo xứ cho các bạn trẻ có ý hướng.

- Xin lễ, đọc kinh cầu nguyện, thăm hỏi, động viên các gia đình nghèo khổ, các ông bà cố già cả, neo đơn trong giáo xứ. 

- Cầu nguyện, thăm hỏi và chúc mừng cá nhân trong ngày lễ khấn, truyền chức.

- Gây quỹ học bổng để giúp đỡ các học sinh nghèo không đủ điều kiện đến trường.

Ngày lễ truyền thống của Tu sĩ – Linh mục:

Thánh lễ truyền thống được tổ chức vào mồng 4 tết như một của lễ dâng lên Chúa để tạ ơn một năm trôi qua được nhiều ơn lành, ân sủng. Cầu xin một năm mới với nhiều sứ vụ, mục vụ mới được thuận lợi và tràn đầy bình an.

Các hội dòng hiện diện trong giáo xứ:

1. Tu hội Thừa Sai Bác Ái Vinh

2. Mến Thánh Giá Vinh

3. Mến Thánh Giá Phan Thiết

4. Vinh Sơn Phaolô

5. Ngôi Lời

6. Nazaret

7. Đa Minh

8. Xitô

9. Antôn

10. Thừa Sai Đức Tin

11. Anh Em Đức Mẹ

12. Thánh Thể

13. Carôlô Scalabrini

14. Chứng Nhân

15. Tu Đoàn Nam BAXH

16. Tu Đoàn Nữ BAXH

17. Nữ Tỳ Thánh Linh Truyền Giáo

18. Nữ tỳ Chúa JeSu Linh mục

19. Phúc âm sự sống

20. Đại Chủng Viện Vinh Thanh

21. Đại Chủng Viện Bà Rịa

Trưởng ban các khóa:

1. Cha Giuse Nguyễn Văn Hồ trưởng ban khóa 2016 - 2018

2. Thầy Phaolô Chu Đình Viện trưởng ban khóa 2018 - 2020

3. Thầy Anphong Maria Chu Đình Nghĩa trưởng ban khóa 2019 - 2021

4. Thầy Giuse Hoàng Nhân Hậu trưởng ban khóa 2021 – đến nay

Danh sách ACE Dự Tu – Đệ Tử – Chủng Sinh – Tu Sĩ – Linh Mục (có danh sách kèm theo)


Thứ Hai, 31 tháng 5, 2021

Thánh Justin Tử Ðạo (1/6)

Thánh Justin là một giáo dân và triết gia Kitô Giáo đầu tiên đã có những sáng tác vĩ đại bảo vệ đức tin Kitô Giáo. Nhờ các văn bản ấy, chúng ta biết về cuộc đời ngài.

Thánh Justin sinh ở Flavia Neapolis, Samaria khoảng năm 100, cha mẹ ngài là người ngoại giáo, gốc Hy Lạp. Ngài được giáo dục kỹ lưỡng và đặc biệt yêu thích khoa hùng biện, thi ca và sử học. Khi còn trai trẻ, ngài bị thu hút bởi triết thuyết Plato. Tuy nhiên, ngài nhận thấy chỉ có Kitô Giáo mới trả lời được những thắc mắc lớn lao về đời sống và sự hiện hữu.

Qua những tài liệu Kitô Giáo cũng như việc quan sát các gương anh hùng tử đạo, Thánh Justin đã trở lại Kitô Giáo khi ngài 30 tuổi. Ngài tiếp tục mặc áo choàng của các triết gia thời bấy giờ, và trở nên triết gia Kitô Giáo đầu tiên. Ngài tổng hợp Kitô Giáo với các yếu tính đặc sắc nhất trong triết lý Hy lạp. Theo quan điểm của ngài, triết lý là một nhà mô phạm của Ðức Kitô, một nhà giáo dục dẫn đưa người ta đến với Ðức Kitô.

Thánh Justin nổi tiếng là một người biện giáo thời bấy giờ. Ngài đi đây đó và tranh luận với các người ngoại giáo, lạc giáo và Do Thái Giáo. Khi người Kitô tiếp tục bị bách hại bởi nhà cầm quyền, ngài đã công khai bảo vệ Kitô Giáo qua lời giảng dạy cũng như văn bản. Trong các sáng tác của ngài, hiện nay chúng ta vẫn còn giữ được hai bản văn gửi cho hoàng đế Rôma và cho Thượng Viện.

Sau cùng ngài bị bắt và bị đưa ra trước quan tổng trấn Rôma là Rusticus. Khi được yêu cầu thờ cúng tà thần, Thánh Justin trả lời, "Người có suy nghĩ đúng đắn không vì sự giả trá mà chối bỏ sự thật."

Thánh Justin bị chém đầu ở Rôma năm 165.

Lời Bàn

Là quan thầy các triết gia, Thánh Justin khích động chúng ta hãy dùng các sức mạnh tự nhiên (nhất là sức mạnh của sự hiểu biết) để phục vụ Ðức Kitô, và để hình thành đời sống Kitô Giáo trong nội tâm chúng ta. Vì con người dễ bị sai lầm, nhất là đối với các vấn đề sâu xa của đời sống và sự hiện hữu, chúng ta cũng phải sẵn sàng sửa đổi và kiểm soát lại tư duy chúng ta trong sự soi dẫn của chân lý Kitô Giáo. Do đó, chúng ta mới có thể nói như các thánh nhân uyên bác của Giáo Hội: Tôi tin để có thể hiểu, và tôi hiểu để có thể tin.

Lời Trích

"Triết lý là sự am tường những gì hiện hữu, và là sự hiểu biết rõ ràng về chân lý; và hạnh phúc là phần thưởng của sự am tường và sự hiểu biết đó" (Thánh Justin, Ðối Thoại Với Trypho, 3)

Trích từ NguoiTinHuu.com

Thứ Tư, 26 tháng 5, 2021

Lễ Đức Mẹ Đi Thăm Viếng (31/5)

   




Đây là một ngày lễ được thiết lập trễ, trong khoảng thế kỷ 13 hay 14. Ngày lễ này được thiết lập trong toàn Giáo Hội để cầu nguyện cho sự hiệp nhất. Chỉ mới đây, ngày cử hành lễ được ấn định theo sau Lễ Truyền Tin vào tháng Ba và trước lễ Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả vào tháng Sáu.

    Cũng như mọi lễ khác về Ðức Maria, lễ này có liên hệ chặt chẽ với Ðức Giêsu và công trình cứu chuộc của Người. Các nhân vật chính trong cuộc thăm viếng (xem Luca 1:39-45) là Ðức Maria và bà Êlidabét. Tuy nhiên, tiềm ẩn ở đằng sau là Ðức Giêsu và Gioan Tẩy Giả. Ðức Giêsu đã làm Gioan Tẩy Giả nhẩy lên vì vui mừng -- niềm vui cứu độ của Ðấng Thiên Sai. Ngược lại, bà Êlidabét được tràn đầy Chúa Thánh Thần và cất lời ca tụng Ðức Maria -- mà những lời này còn vang vọng qua các thế hệ.

    Cần biết rằng chúng ta không có tài liệu tường thuật chi tiết về cuộc gặp gỡ này. Ðúng hơn, Thánh Luca, lên tiếng thay cho Giáo Hội, đã dùng một bài thơ có tính cách cầu nguyện để diễn tả lại biến cố này. Lời bà Êlidabét ca tụng Ðức Maria là "mẹ của Chúa tôi" có thể coi như sự sùng kính của Giáo Hội thời tiên khởi đối với Ðức Maria. Như tất cả sự sùng kính Ðức Maria đích thực, những lời đầu tiên của bà Êlidabét (cũng như của Giáo Hội) là ca tụng Thiên Chúa vì những gì Người đã thể hiện nơi Ðức Maria. Kế đến, bà mới ca tụng Ðức Maria vì đã tín thác vào công trình của Thiên Chúa. Sau đó là kinh Ngợi Khen. Ở đây, chính Ðức Maria (cũng như Giáo Hội) đã nhận biết sự cao trọng của mình là do Thiên Chúa.

    Lời Bàn

    Trong Kinh Cầu Ðức Bà, có lời xưng tụng Ðức Maria là "Hòm Bia Giao Ước." Như Hòm Bia Giao Ước thời xa xưa, Ðức Maria đã giúp Thiên Chúa hiện diện trong đời sống của mọi người. Như Ðavít nhẩy múa trước Hòm Bia thì Gioan Tẩy Giả cũng nhẩy lên vì vui mừng. Như Hòm Bia giúp kết hợp 12 dòng họ Israel vì được đặt trong thủ phủ của Ðavít thì Ðức Maria cũng có sức mạnh kết hợp mọi Kitô Hữu trong Con của ngài. Hiện nay, việc sùng kính Ðức Maria đã có những chia cách, nhưng hy vọng rằng việc sùng kính đích thực sẽ dẫn đưa mọi người đến Ðức Kitô và từ đó đến với nhau.

    Lời Trích

    "Ðược thúc giục bởi lòng bác ái nên Ðức Maria đã đến nhà người bà con... Trong khi mọi lời của bà Êlidabét đều đầy ý nghĩa, lời sau cùng của bà dường như quan trọng hơn cả: 'Phúc cho ai tin rằng lời Chúa nói với họ sẽ được thể hiện' (Luca 1:45). Những lời này có thể liên hệ đến danh xưng 'đầy ơn phúc' mà thiên sứ đã chúc tụng. Cả hai đoạn này tiết lộ một nội dung căn bản về Thánh Mẫu Học, có thể nói là chân lý về Ðức Maria, là người đã trở nên thực sự hiện diện trong mầu nhiệm của Ðức Kitô chỉ vì ngài 'đã tin.' Ơn sủng đầy tràn mà thiên sứ loan báo có nghĩa là chính Thiên Chúa. Ðức tin của Ðức Maria, được bà Êlidabét xưng tụng trong cuộc thăm viếng, cho thấy Ðức Trinh Nữ Nagiarét đã đáp ứng thế nào với ơn sủng này" (Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, "Mẹ Ðấng Cứu Chuộc," 12).

Thánh Philíp Nêri (1515-1595) (26/5)

 


Thánh Philíp Nêri, vị "Tông Ðồ của Rôma", là một trong những khuôn mặt lớn của cuộc Cải Cách Công Giáo. Một trong những điều đáng kể của thánh nhân là ảnh hưởng của ngài, dù ngài không viết một cuốn sách, không đề nghị một học thuyết gì mới mẻ, và cũng không khởi xướng một phong trào linh đạo nào. Nhưng tinh thần vui tươi và thánh thiện của ngài đã làm sống dậy tinh thần đạo đức ở Rôma vào thời ấy.

    Thánh Nêri sinh ở Florence, nước Ý năm 1515. Ngay từ khi còn trẻ, ngài đã khước từ cơ hội để trở thành một doanh gia và lên Rôma với ý định tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa. Trong vài năm, ngài sống thật đơn giản, ngoài thời giờ học hỏi, ngài còn đi dạy thêm để đủ sống. Ðây là quãng thời gian cầu nguyện và chuẩn bị cho một ơn gọi mà ngài chưa biết rõ.

    Thành phố Rôma thời bấy giờ trong tình trạng thối nát về tâm linh và đạo đức. Các giáo hoàng thời Phục Hưng thường nổi tiếng về mưu đồ và tài năng chính trị hơn là đời sống gương mẫu. Việc tấn phong các hồng y nếu không được quyết định bởi lý do chính trị thì cũng vì lý do phe cánh. Cả thành phố đắm chìm trong tình trạng hoài nghi yếm thế đối với sứ điệp Kitô Giáo. Tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh này, Philíp Nêri đã nhận ra ơn gọi của mình, đó là tái-phúc-âm-hoá Rôma.

    Quả thật là một công việc táo bạo, nhưng với nhiệt huyết, Nêri đã khởi sự ngay ở các đường phố qua các cuộc đối thoại về tôn giáo với bất cứ ai ngài gặp, bất cứ đâu có cơ hội. Không bao lâu, những người quen biết ngài ngày càng đông và họ cảm mến sự thẳng thắn cũng như khả năng thấu suốt linh hồn của họ mà Chúa đã ban cho ngài.

    Vào năm 1550, khi ngài ba mươi lăm tuổi, qua sự khuyến khích của cha giải tội, ngài chịu chức linh mục. Ngay sau đó, ngài trở thành cha giải tội nổi tiếng và ngài thường tổ chức các buổi học hỏi, nói chuyện ngay trong khuôn viên các đền thánh ở Rôma.

    Ngay trên căn gác của ngài sinh sống, thường có các buổi hội thảo về đời sống tâm linh của những người theo ngài, gồm các giáo sĩ cũng như giáo dân. Ðây là khởi sự của Tu Hội Oratory mà đặc điểm là cầu nguyện và hát thánh vịnh bằng tiếng bản xứ cũng như mỗi ngày đều có bốn cuộc hội thảo bán chính thức.

    Hình thức sinh hoạt "mới lạ" này đã bị Tòa Thẩm Tra nghi ngờ. Có phải Nêri toan tính một loại sinh hoạt thiên về Tin Lành ngay trong thủ đô Rôma hay chăng? Sau giai đoạn đau khổ vì bị cáo buộc là tụ tập những kẻ lạc giáo, mà trong đó giáo dân có thể giảng và hát thánh vịnh bằng tiếng bản xứ, cuối cùng Tu Hội Oratory đã được chấp thuận. Hiến pháp của tu hội phải ảnh tinh thần của Thánh Philíp Nêri, chú trọng vào ý chí cá nhân hơn là thẩm quyền pháp lý. Các linh mục không có lời khấn. Họ tự ràng buộc chính mình, vì như Cha Philíp Nêri đã nói, "Nếu bạn muốn vâng phục, thì không cần đến mệnh lệnh".

    Ngay khi ngài còn sống, đã có nhiều phép lạ xảy ra nhờ lời cầu nguyện của ngài. Vào ngày lễ Hiện Xuống năm 1544, ngài được một cảm nghiệm siêu nhiên về tình yêu Thiên Chúa mà sau đó, mỗi khi dâng Thánh Lễ, khuôn mặt ngài tỏa sáng lạ thường. Dân chúng đều coi ngài là thánh, nhưng chính ngài lại giả điên giả khùng với khuôn mặt chỉ cạo râu có một nửa để khỏi bị dân chúng tôn sùng.

    Vào những năm cuối đời, thánh nhân là tâm điểm đời sống tâm linh của Rôma trong nhiều phương cách. Không chỉ có các linh mục trong tu hội, mà cả các giám mục và hồng y đã tìm đến căn phòng nhỏ bé của ngài để xin hướng dẫn linh đạo. Người dân Rôma, ai ai cũng biết đến công việc bác ái của thánh nhân, đặc biệt là việc cung cấp linh mục tuyên uý cho các nhà thương thành phố. Sau cùng, vào ngày 25 tháng Năm 1595, sau khi nghe xưng tội và tiếp khách, trước khi về phòng nghỉ, ngài tuyên bố, "Rốt cục, chúng ta đều phải chết." Quả thật, đêm ấy ngài đã trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 80 tuổi.

    Lời Trích

    Khi được hỏi ngài cầu nguyện thế nào, Thánh Philíp Nêri trả lời: "Hãy khiêm tốn và phó thác, và Chúa Thánh Thần sẽ dạy bạn cầu nguyện."

Thứ Bảy, 22 tháng 5, 2021

Nước Hằng sống (22.5.2021 – Thứ Bảy)


Lời Chúa
Ga 21, 20-25

Khi ấy, ông Phêrô quay lại, thì thấy người môn đệ Ðức Giêsu thương mến đi theo sau; ông này là người đã nghiêng mình vào ngực Ðức Giêsu trong bữa ăn tối và hỏi: “Thưa Thầy, ai là kẻ nộp Thầy?” Vậy khi thấy người đó, ông Phêrô nói với Ðức Giêsu: “Thưa Thầy, còn anh này thì sao?” Ðức Giêsu đáp: “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh? Phần anh, hãy theo Thầy”. Do đó mới có tiếng đồn giữa anh em là môn đệ ấy sẽ không chết. Nhưng Ðức Giêsu đã không nói với Phêrô là: “Anh ấy sẽ không chết”, mà chỉ nói: “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh?”
Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực.
Còn có nhiều điều khác Ðức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.
Suy nim:
Trong bài Tin Mừng hôm nay, ngoài Đức Giêsu và Phêrô,
còn có người môn đệ được Đức Giêsu thương mến.
Anh đã có mặt trong bữa Tiệc Ly cùng với Phêrô, đã nằm gần Thầy,
và được Phêrô nhờ hỏi Thầy xem ai là kẻ phản bội (13,23-25).
Anh đã đưa Phêrô vào dinh thượng tế khi Đức Giêsu bị bắt (18,15-16).
Anh đã cùng với Phêrô chạy ra ngôi mộ trống lúc ban mai,
nhưng anh chạy nhanh hơn, và tin trước Phêrô (20,3-10).
Khi Phêrô chối Thầy ba lần và không lộ diện nữa (18,17-18.25-27),
thì anh là môn đệ duy nhất đứng gần thập giá Đức Giêsu,
và được Ngài trao Thân Mẫu của mình để làm Mẹ của anh (19:25-27).
Trong lần Đức Giêsu tỏ mình bên bờ hồ Galilê, sau mẻ cá lạ (21,4-7),
anh là người đầu tiên nhận ra Thầy, và nói với Phêrô: “Chúa đó!”
Có vẻ hình ảnh người môn đệ được Chúa thương nổi trội hơn Phêrô.
Dù sao Simon Phêrô đã ba lần tuyên xưng tình yêu trước Thầy,
và ba lần Thầy giao cho anh chăm sóc đoàn chiên như người mục tử.
Thầy còn tiên báo cái chết tử đạo của anh,
và mời anh một lần nữa: “Hãy theo Thầy” (21,19; x. 13,36-37).
Đó là đường đời của Phêrô, một môn đệ và một mục tử.
Nhưng đâu là con đường tương lai của người môn đệ kia?
Phêrô đi theo Đức Giêsu, quay lại, thấy anh này cũng đang đi theo.
“Thưa Thầy, còn anh này thì sao?” (c. 21).
Đức Giêsu đã không bảo là anh này sẽ không chết,
hay anh còn sống mãi cho đến ngày Ngài quang lâm (c. 23).
Khi cuốn Tin Mừng Thứ Tư được viết xong vào cuối thế kỷ thứ nhất,
thì người môn đệ kia đã qua đời, nhưng không được phúc tử đạo.
Như thế tiếng đồn về câu nói của Đức Giêsu là sai sự thật (c. 22).
Những gì anh để lại cho thế giới là cuốn Tin Mừng Thứ Tư.
“Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra.
Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực” (c. 24).
Người môn đệ này cho chúng ta một lời chứng đáng tin,
vì anh là người đã sống bên Thầy Giêsu, thật gần gũi.
Anh đã mắt thấy tai nghe, và có kinh nghiệm thân thiết với Thầy.
Không hẳn anh đích thân cầm bút viết cuốn Tin Mừng này,
nhưng anh lại chính là tác giả của mọi điều được viết trong đó.
Tất cả là kinh nghiệm riêng tư anh đã trải qua với Thầy Giêsu,
và những suy niệm lâu dài dưới ánh sáng Phục sinh và Thánh Thần.
Người môn đệ này còn là người sáng lập một cộng đoàn tín hữu.
Cộng đoàn ấy được ám chỉ qua đại từ “chúng tôi” (c. 24; x. 1,14.16).
Một người trong cộng đoàn đã viết chương cuối này (c. 25: “tôi”).
Ai là người môn đệ được Đức Giêsu thương mến?
Nhiều người nghĩ anh là Gioan, nhiều người lại nghĩ khác.
Dù sao anh thật là một môn đệ lý tưởng cho chúng ta.
Điều anh để lại cho đời trong cuốn Tin Mừng là điều anh xác tín.
Anh là nhân chứng đáng tin cậy của Đức Kitô, Con Thiên Chúa.
Đúng anh là người được Thầy yêu và là người đã hết lòng yêu Thầy.
Cầu nguyn:
Lạy Thiên Chúa của đời con,
chỉ trong tình yêu con mới tìm thấy Chúa.
Trong tình yêu, các cánh cửa hồn con mở tung,
để con được thở không khí tự do tươi mới
và quên đi cái tôi nhỏ mọn của mình.
Trong tình yêu, toàn bộ con người con vươn ra khỏi
những ranh giới cứng nhắc của óc hẹp hòi
và của thái độ tự khẳng định đầy bất an
khiến con bị giam mình trong sự nghèo nàn và trống rỗng.
Trong tình yêu, mọi sức mạnh của hồn con tuôn chảy về Chúa,
chẳng bao giờ còn muốn quay trở lại,
nhưng chỉ muốn mất mình trọn vẹn trong Chúa,
vì qua tình yêu, Chúa là trung tâm sâu nhất của lòng con,
Chúa gần con hơn cả chính con gần con.
Nhưng khi con yêu Chúa,
khi con tìm cách phá vỡ vòng vây chật hẹp của cái tôi, và vứt bỏ sau lưng
nỗi khắc khoải không nguôi về những câu hỏi còn bỏ ngỏ,
khi đôi mắt mù lòa của con không còn chỉ nhìn từ xa và từ bên ngoài
ánh rạng ngời không thể lại gần được của Chúa,
và hơn nữa, lạy Chúa là Đấng vô phương thấu hiểu,
khi qua tình yêu, Chúa trở nên trung tâm sâu nhất của đời con,
khi ấy con mới có thể chôn mình hoàn toàn trong Chúa,
lạy Thiên Chúa nhiệm màu,
và chôn mọi câu hỏi của con cùng với con.
Karl Rahner, S.J.

 

Đứng gần thập giá (24.5.2021 – Thứ Hai Tuần 8 TN - lễ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh)

 


Lời Chúa: Ga 19,25-34

Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng : “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ : “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

Sau đó, Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói : “Tôi khát!” Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhắp xong, Đức Giêsu nói : “Thế là đã hoàn tất !” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.

Hôm đó là ngày áp lễ, người Do thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sabát, mà ngày sabát đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế họ xin ông Philatô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra.

Suy niệm:

Khi Đức Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá,

các Tin Mừng Nhất Lãm đều nhắc đến các phụ nữ Galilê.

Họ chỉ đứng nhìn Thầy từ xa (Mt 27,55; Mc 15,40; Lc 23,49).

Còn Tin Mừng Gioan lại mô tả nhóm phụ nữ đứng gần thập giá.

Người phụ nữ đầu tiên được kể tên là thân mẫu Đức Giêsu.

Mẹ đã theo Con đến tận núi Sọ,

dám chứng kiến và cảm nghiệm mọi nỗi đau của Con.

Mẹ can đảm nhận mình là mẹ của người tử tội,

đang ở trong giây phút cuối đời, đang đối diện với cái chết.

 

Người gần chết thường hay trối trăng một điều quan trọng,

một điều cần phải làm sau khi họ nhắm mắt.

Đức Giêsu trên thập giá cũng muốn để lại một lời trối.

Từ trên cao, Ngài nhìn thấy thân mẫu của mình

và người môn đệ mình yêu dấu đứng kề bên,

Ngài muốn tạo một tương quan thân thiết giữa họ.

Ngài nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà.”

Rồi nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” (Ga 19,26-27).

Hai người không ruột thịt máu mủ, bây giờ thành mẹ con.

 

Có người nghĩ chuyện Đức Giêsu làm ở đây cũng thường thôi.

Vì biết mình sắp chết, nên Ngài giao phó Mẹ cho môn đệ,

để anh này thay mình chăm sóc Mẹ cho tròn chữ hiếu.

Thật ra lời trăng trối của Đức Giêsu mang tầm vóc lớn hơn nhiều.

Chúng ta không rõ khi Ngài lên đường đi sứ vụ, ai đã lo cho Mẹ.

Ngài để lại Mẹ ở nhà, và Ngài đòi các môn đệ cũng làm như thế.

Không rõ lúc cuối đời, Ngài có thấy cần người chăm sóc Mẹ không?

Dù sao trước khi Ngài nói với anh môn đệ: “Đây là mẹ của anh”

thì Ngài đã giới thiệu anh với Mẹ: “Đây là con của bà.”

Ngài xin Mẹ nhận anh này làm con và chăm sóc anh.

Sau đó Ngài mới giới thiệu Mẹ với anh: “Đây là Mẹ của anh.”

Người môn đệ đã nhận bà làm mẹ, và đã đón bà về nhà mình.

Đức Giêsu đã làm xong chuyện cuối cùng mà Ngài phải làm,

đó là tạo lập một tương quan mẫu tử giữa Mẹ và anh môn đệ.

Với sự bình an thanh thản của người đã hoàn thành sứ mạng,

Ngài nói: “Thế là đã hoàn tất !” (Ga 19,28.30).

 

Có người nghĩ rằng Thầy Giêsu trên thập giá

chỉ muốn nối kết Mẹ Ngài và người môn đệ Ngài mến thương.

Đó là chuyện thuần túy riêng tư giữa hai người.

Anh môn đệ này không đại diện cho các kitô hữu,

nên cũng chẳng có tương quan nào giữa Mẹ Maria và chúng ta.

Truyền thống Công giáo nghĩ không nghĩ như thế,

nhưng coi cử chỉ trăng trối cuối cùng này của Đức Giêsu

đã kết nên mối dây giữa Mẹ Ngài với mọi kitô hữu.

Đức Giêsu đã chia sẻ tương quan làm con của Mẹ cho chúng ta.

để chúng ta cũng có thể coi Mẹ Maria là Mẹ của mình.

Đây là món quà quý giá Ngài ban cho ta lúc gần kề cái chết.

Chẳng thấy Mẹ hay anh môn đệ nói gì sau lời của Đức Giêsu,

nhưng chúng ta biết cả hai đã sống tương quan mới sau đó.

Đức Maria đã trở nên mẹ của từng kitô hữu.

Mẹ đã là môn đệ trung tín theo Con mình đến tận thập giá.

Người môn đệ Chúa yêu đứng gần cũng theo Thầy đến cùng.

Cả hai làm nên một gia đình thiêng liêng.

 

Khi vào một nhà thờ Công giáo, chúng ta thấy lòng ấm lại,

vì có sự hiện diện cảm thông của một Người Mẹ,

Người đã ở với Đức Giêsu hơn ba mươi năm,

đã sinh dưỡng, dạy dỗ, chở che, và làm cho Ngài lớn lên.

Đức Maria là thành viên và là Mẹ của Hội Thánh,

là người đứng dưới chân thập giá với nhóm phụ nữ ở Galilê,

nhưng cũng là người có phúc hơn mọi phụ nữ,

là người cầu nguyện với các môn đệ chờ Thánh Thần đến,

nhưng cũng là người được Thánh Thần ngự từ lúc truyền tin.

Chúng ta mong Chúa Giêsu cứ nói với Mẹ: “Đây là các con của Bà.”

Và nói với chúng ta: “Đây là Mẹ của anh chị em.”

Và chúng ta cũng mong Mẹ nhắc nhở chúng ta nhiều lần:

“Hãy làm những gì Người bảo!”

 

Cầu nguyện:

 

Lạy Mẹ Maria,

Chúng con tạ ơn Chúa Giêsu

đã ban cho chúng con một người mẹ

như quà tặng vô giá lúc Người sắp lìa đời.

Mẹ được chọn làm thân mẫu của Chúa

và được ban đầy ân sủng siêu phàm,

khiến muôn thế hệ phải ngợi khen chúc tụng.

Nhưng Mẹ cũng là tỳ nữ mọn hèn

luôn mau mắn thi hành ý định của Thiên Chúa,

dù Mẹ chẳng hiểu hết được mầu nhiệm cao sâu.

 

Chúng con tưởng Mẹ sẽ đi trên con đường đầy hoa,

nhưng thật ra Mẹ đã đi con đường của Chúa,

con đường gập ghềnh và trắc trở,

với lưỡi gươm sắc đâm thấu tâm hồn.

Trong đời Mẹ có bao tiếng xin vâng trên môi,

từ tiếng xin vâng đầu tiên đến tiếng xin vâng trên núi Sọ.

Những tiếng xin vâng này hợp với tiếng xin vâng của Con Mẹ

để Người đem ơn cứu độ cho chúng con.

 

Lạy Mẹ Maria,

là Mẹ Chúa Giêsu và là Mẹ chúng con.

Mẹ đã sống trọn phận người như chúng con,

và đã chiến thắng sau khi kết thúc cuộc đời trần thế.

Mẹ hiểu chúng con cần lời cầu bàu của Mẹ biết bao

đang khi phải chiến đấu giữa trần gian đầy sóng gió.

 

Ước gì chúng con cũng có phúc vì đã tin như Mẹ,

có phúc vì đã làm cho Con của Mẹ được sinh ra,
và được lớn lên trong thế giới hôm nay. Amen. 


Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.